Thơ ca Tiền Tần – “Ngọn nguồn” của thơ ca truyền thống Trung Quốc

Thơ ca Tiền Tần

Cùng với thần thoại cổ xưa, dân ca Nam Bắc Triều, tiểu thuyết Minh – Thanh,… thơ ca Tiền Tần là một trong những loại hình văn học truyền thống nổi trội của Trung Quốc. Vậy lịch sử và sự phát triển của thơ ca thời Tiền Tần ra sao? Hãy cùng ChineseRd đi sâu vào tìm hiểu nhé! 

Tìm hiểu: Tiểu thuyết Minh Thanh – loại hình văn học hưng thịnh của Trung Quốc

Khái quát 

Các bài thơ trước khi nhà Tần thống nhất các nước được quy về Thơ ca Tiền Tần. 

Thơ ca Tiền Tần gồm “Kinh Thi”, “Sở Từ”, cùng một số bài dân ca thời Xuân Thu – Chiến Quốc và một phần ca dao xã hội nguyên thuỷ. Dân ca và ca dao cổ được sưu tầm trong “Nguồn Thơ Cổ (古诗源)”. Thơ ca thời Tiền Tần là “ngọn nguồn” của thơ ca truyền thống Trung Quốc. Trong đó, “Kinh Thi” là nguồn gốc của thơ ca chủ nghĩa hiện thực. Còn “Sở Từ” là khởi nguồn của thơ ca chủ nghĩa lãng mạn. 

Thơ ca vào thời này có nội dung phong phú, âm luật hoàn chỉnh, kết cấu tài tình; mở ra một khởi đầu với trình độ cao cho thơ văn Trung Quốc. Khác với sử thi của Phương Tây và các dân tộc thiểu số, thơ ca Tiền Tần hầu hết đều ngắn gọn, súc tích và đậm “chất thơ”.

Thơ ca Tiền Tần

Ca dao thời nguyên thuỷ

Ca dao xã hội nguyên thuỷ phản ánh quá trình lao động sản xuất thời bấy giờ, cầu cho mưa thuận gió hoà như “Đàn Ca”, “Khanh Vân Ca”. Hay những bài thơ cổ trong “Kinh Dịch” và quẻ bói được khắc trên trống đá cổ, mai rùa, xương động vật. 

Kinh dịch - thơ ca Tiền Tần
Kinh dịch

Kinh Thi – Thơ ca Tiền Tần

“Kinh Thi” là tập thơ trước thế kỷ VI TCN. Đây là tuyển tập thơ ca đầu tiên của Trung Quốc. Trong đó sưu tầm 305 bài thơ từ thời Tây Chu đến thời Xuân Thu. Một phần trong đó là các bài hát tế do thái sư Tư Lạc lưu lại. Một phần khác quan trọng hơn đó là dân ca được sưu tầm và chỉnh sửa. Những bài thơ này được chia thành ba phần là: “Phong”, “Nhã” và “Tụng”.

“Phong” là dân ca, gồm dân ca của 15 nơi, cũng gọi là “15 quốc phong”. Có tổng cộng 160 bài, hầu hết là các tác phẩm người dân bày tỏ tình cảm của mình. Những bài thơ này chiếm vị trí chủ yếu trong “Kinh Thi”, mang tính hiện thực hơn so với “Nhã” và “Tụng”.

“Nhã” được chia thành “Đại Nhã” và “Tiểu Nhã”. “Đại Nhã” được dùng cho những bữa tiệc lớn, còn “Tiểu Nhã” được dùng trong các buổi tiệc bình thường. Chúng đều là khúc hát thời Tây Chu. Trong đó có thơ tự sự, trữ tình; ca ngợi các anh hùng và châm biếm nền chính trị thời bấy giờ. Tổng cộng gồm 105 bài, hầu hết là các tác phẩm mang tính hiện thực cao.

“Tụng” là những bài hát tế lễ, hiện gồm 40 bài. Trong đó có 31 bài “Chu Tụng”, 4 bài “Lỗ Tụng” và 5 bài “Thương Tụng”. Những bài thơ này tế tổ tiên, trời đất và thần nông.

Kinh thi - thơ
Kinh Thi

Hình thức

Hình thức chủ yếu của “Kinh Thi” là tứ ngôn. Một bài thơ chia làm nhiều chương. Các chương chỉ thay đổi ở vần chân, mỗi chương sẽ gieo vần khác nhau. 

Cách biểu đạt

Cách biểu đạt chủ yếu của “Kinh Thi” gồm ba loại: “Phú”, “Tỉ”, “Hưng”. “Phú” là miêu tả. “Tỉ” là so sánh. “Hưng” là dẫn dắt một việc bằng cách nói một việc khác trước. Vào trước thời nhà Hán, “Kinh Thi” chỉ được gọi là “Thơ” hoặc “Ba Trăm Bài Thơ”. Sau này, từ “Kinh” được Hán Nho thêm vào.

“Kinh Thi” và “Thượng Thư”, “Lễ Ký”, “Dịch”, “Xuân Thu” được kết hợp thành “Ngũ Kinh” của Nho giáo. Đây là tác phẩm kinh điển bắt buộc phải học trong Nho giáo. Khổng Tử vô cùng đề cao “Kinh Thi”.

Thơ Khuất Nguyên

Vào cuối thời Chiến Quốc, ở Đan Dương nước Sở (nay là Tây Tiệp, Hà Nam) xuất hiện nhà thơ vĩ đại trong lịch sử văn học Trung Quốc là Khuất Nguyên. Ông đã sáng tạo ra một thể thơ mới mà thế hệ sau thường gọi là “Sở Từ”. Sở từ được sáng tạo từ dân ca đất Sở, độ dài các câu không giống nhau, kết cấu linh hoạt, dùng nhiều câu chữ “ Xī (Này)”. Sau Khuất Nguyên, có một số nhà thơ viết sở từ nhưng hầu hết các tác phẩm đều bị thất lạc, chỉ còn một số bài của Tống Ngọc như “Cửu Biện”, “Phong Phú”,…

Khuất Nguyên
Khuất Nguyên (340 TCN – 278 TCN)

Khuất Nguyên (340 TCN – 278 TCN), tên thật là Bình, tự là Nguyên. Sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Sở, có tài văn chương và chính trị. Khi còn trẻ, ông rất được Sở Hoài Vương tín nhiệm. 

Năm 1953 đánh dấu 2230 năm ngày mất của Khuất Nguyên, Hội đồng Hòa bình Thế giới đã thông qua nghị quyết quyết định ông là một trong bốn danh nhân văn hóa thế giới để tưởng nhớ vào năm đó. Các tác phẩm của Khuất Nguyên gồm “Li Tao”, “Cửu Chương”, “Thiên Vấn” và “Cửu Ca”.

Li Tao 

“Li Tao” là tác phẩm chính của Khuất Nguyên và cũng là bài thơ trữ tình sớm nhất và dài nhất Trung Quốc. Gồm 373 câu và 2490 chữ. Bài thơ là lời kể của nhà thơ về “nỗi khổ” và bộc lộ nỗi niềm trăn trở trong sâu thẳm. Có thể coi đây là “tự truyện” của nhà thơ, chứa đựng tư tưởng và việc làm của nhà thơ trong nửa cuộc đời của mình. “Li Tao” thể hiện nỗi nhớ quê hương và tình cảm với người dân của tác giả. 

Khuất Nguyên là một nhà thơ yêu nước vĩ đại với hoài bão lớn và luôn muốn cứu nước Sở khỏi diệt vong. Tất cả đều được thể hiện trong các bài thơ của ông.

Trên đây là những giới thiệu về Thơ ca Tiền Tần – “ngọn nguồn” của thơ ca truyền thống Trung Quốc. Mong rằng thông tin trên sẽ giúp ích cho bạn!

Xem thêm: Phong tục truyền thống trong hôn lễ của người Trung Quốc

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *